Bát Tự Dụng Thần Trí Lực Song Hành. Anh Đức

Bát Tự Dụng Thần Trí Lực Song Hành. Anh Đức

Share

Cuộc Sống Quý Ở Cân Bằng . Khi Cân Bằng Tâm Thái Sẽ Vui Vẻ . Mọi Việc Sẽ Ha

25/12/2023

BẠCH LỘC - TỪ THẦN THOẠI BƯỚC RA HIỆN THỰC

Bạch Lộc (hươu trắng) là một sinh vật trong truyền thuyết của nhiều nền văn hóa trong lịch sử, là hình tượng của sự uy phong trong các thần thoại của nhiều nền văn hoá khắp thế giới.

Trong thần thoại Bắc Âu, nhiều người tin rằng nếu giết phải hươu trắng dù chỉ là vô tình thì tai nạn sẽ giáng xuống đầu họ. Thậm chí người Celts cổ đại còn coi chúng như sứ giả đến từ thế giới khác, vị sứ giả này mang thông điệp từ một thế giới khác và những ai bắt gặp loài linh vật này thì cuộc sống sẽ thay đổi vĩnh viễn.

Trong văn hóa Trung Quốc cổ đại, chúng là loài vật tượng trưng cho sự cát tường anh minh, thường xuất hiện cùng bậc tiên nhân đắc đạo. Hươu trắng có thể sống đến 1000 năm. Một con hươu thường khi sống được khoảng 500 năm thì màu lông của nó sẽ dần chuyển sang màu trắng tinh và trở thành một con Bạch Lộc.

Tương truyền vào cuối đời, Lão Tử đã cưỡi trên một con Bạch Lộc đi về phương nào chẳng rõ. Khi đấng quân vương quan triều ổn định được nền chính trị trong nước, cuộc sống dân đen trở nên thanh bình, Bạch Lộc sẽ tái xuất hiện như một điềm báo về sự an cư lạc nghiệp.
Tại khu vực Hallasan của Hàn Quốc có một hồ nước trên miệng núi lửa gọi là Hồ Baengnokdam (백록담/白鹿潭, Bạch Lộc Đàm), nghĩa là "Đầm hươu trắng". Có một truyền thuyết gắn với tên gọi của hồ này là do những người đàn ông đến từ thế giới khác đã đi xuống từ thiên đường để vui chơi với những con hươu trắng. Tùy theo mùa, chu vi của hồ có thể lên tới 2 km và sâu khoảng 100 m.

Dù trong thần thoại nào thì biểu tượng hươu trắng luôn là biểu tượng của quyền uy, may mắn và hạnh phúc.
---------------------------

Đặc biệt mặt Bạch Lộ được làm trên chất ngọc Tụ Nham trong vắt thuần khiết điểm một vài chút hoa trắng bay bay.
Một tác phẩm tinh xảo trong mùa Noel này.

06/05/2023

𝐘́ 𝐧𝐠𝐡𝐢̃𝐚, 𝐛𝐢𝐞̂̉𝐮 𝐭𝐮̛𝐨̛̣𝐧𝐠 𝐜𝐮̉𝐚 𝐜𝐡𝐮̛̃ 𝐕𝐚̣𝐧 ( 𝐌𝐚̣̆𝐭 𝐭𝐫𝐨̛̀𝐢)
—----------------

Biểu tượng chữ Vạn là từ hoa mặt trời 8 cánh gắn liền với nguồn sáng thần lửa Agni của người A***n. Vậy nên biểu tượng chữ Vạn tượng trưng cho sự may mắn, đại diện cho vũ trụ, hệ mặt trời, là nơi phát sinh nguồn sống vô tận vĩnh cửu.

Hình tượng chữ Vạn còn được giải thích là các tia lửa chuyển động theo ngược chiều kim đồng hồ, cũng như khi thắp hương trên chùa, thường đi lần lượt từ phải qua trái, tất cả thể hiện từ dương qua âm, hợp với triết lý đạo Phật là không cầu sinh.
Trong Phật Giáo biểu tượng chữ Vạn trên ngực Phật cũng là nói về ánh sáng trí tuệ từ Phật tỏa ra. Đây cũng là một trong 32 tướng tốt của Đức Phật, đại diện cho công đức vô lượng của Ngài..

Chữ Vạn xuất hiện trên ngực của Đức Phật là đại diện cho giác ngộ toàn vẹn, thể hiện đúng đạo lý Trung Đạo của nhà Phật, vượt ra ngoài sự đối đãi.

04/05/2022

🕉5 đỉnh cao Trí Tuệ chạm gần Trí Huệ
Ai đạt được thì nắm được mọi thứ họ muốn.

🕉1. ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ.
Chỉ ghi nhận mọi việc mà không phản ứng.

🕉2. PHÁP GIỚI THẾ TÁNH TRÍ.
Hiểu bản chất mọi việc.

🕉3. DIỆU QUAN SÁT TRÍ.
Trí tuệ phân biệt.

🕉4. BÌNH ĐẲNG TÁNH TRÍ.
Trân trọng mọi người, mọi vật. Coi bất cứ ai đều là bình đẳng.

🕉5. THÀNH SỞ TẮC TRÍ
Hoàn thành bất kỳ những gì mình mong muốn.
Làm được bất kỳ điều gì cần làm.

10/11/2021

🌳🔥 MỘC - HOẢ TRONG MỆNH QUAN TRỌNG NHƯ THẾ NÀO?
❌ Mệnh thiếu Mộc - Hoả rất khó thành công, tình duyên cũng dễ lận đận!
✨⭐️ Mộc và Hoả đều đại diện cho sự vươn lên. Cây hướng thẳng dưới ánh mặt trời, ngọn lửa cũng chiếu sáng và sưởi ấm cho vạn vật.
🌳🌿 MỘC LÀ NHÂN. Chủ về sự sinh sôi phát triển như một con người hoàn chỉnh. Là sự năng động tích cực, hăng hái.
Cái cây lớn lên mỗi ngày, thể hiện cho ý chí thăng tiến không ngừng nghỉ.
Cuộc đời một cái cây cũng phải trải qua nhiều giông bão, vượt qua và ngày một vững vàng.
☀️🔥 HOẢ LÀ LỄ. Là ánh sáng, ý chí, nhiệt huyết. Không chỉ trong chuyện tình cảm mà cả trong phát triển bản thân, sự nghiệp.
Hoả cũng là bắt đầu cho sự khai sáng tâm trí, mãnh liệt và chủ động.
❌❌❌ Nếu như bản mệnh của bạn thiếu Mộc và Hoả. Mệnh sẽ âm trầm tăm tối. Trong cuộc sống cũng dễ bị hời hợt, lãnh đạm hoặc khó khăn, trắc trở với nhiều vấn đề.
‼️‼️ Riêng năm nay 2020 Kim Thuỷ dày, cũng là 1 năm không dễ dàng!
🔰✅ Bạn muốn thực sự hiểu bản mệnh của chính mình là như thế nào không?

09/11/2021

Chúng ta sinh ra trong 1 ngày cũng có thể tan biến trong 1 ngày
Chúng ta gặp gỡ trong 1 ngày cũng có thể lãng quên nhau chỉ trong 1 ngày
Chúng ta thay đổi trong 1 ngày cũng có thể gục ngã trong 1 ngày
Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra chỉ trong 1 ngày

Vậy nên ngay bây giờ hãy bắt đầu sống cuộc đời đẹp nhất của mình bạn nhé

05/11/2021

Nếu có được một tâm thái tùy duyên, bạn sẽ sống trọn đời cởi mở.
Nếu chứa đựng một trái tim bình an, bạn sẽ có một lối sống tự tại.
Nếu trong lòng có y niệm từ bi, bạn sẽ làm được thật nhiều việc tốt.
Nếu nuôi dưỡng một tấm lòng biết ơn, bạn sẽ cảm thấy mình hạnh phúc.
Nếu ý thức được quy luật nhân quả, những quyết định sẽ trở nên sáng suốt.
Nếu biết được khi nào nên nhường nhịn, cuộc sống này sẽ càng thêm vui vẻ.
Nếu giữ gìn một trái tim mộc mạc, việc gì đến cũng sẽ rất giản đơn.
Nếu rèn được một thói quen phản tỉnh, mỗi ngày qua bạn sẽ càng tỉnh thức.

06/10/2021

LỜI NÓI QUYẾT ĐỊNH VẬN MỆNH CỦA MÌNH TRONG TƯƠNG LAI!!!!
"Lời nói do tâm sinh", một người tâm tính như thế nào thì cách họ nói chuyện cũng sẽ như thế.
Lời nói nói lên vận mệnh
Lời nói chính là biểu hiện rõ rệt nhất của một người có đức hay không, lời nói cần giữ thủ đức, có như vậy mới giữ được phúc báo. Tại sao chỉ mất 2 năm để học nói nhưng ta phải dành cả đời để học cách im lặng? Nói là một loại năng lực, im lặng là một loại trí tuệ. Mệnh của con người có tốt hay không có thể nhìn cách người đó nói chuyện là có thể nhận biết.
Hàng ngày không nhất định đều phạm phải việc tổn đức, nhưng nói chuyện thốt ra những điều khó nghe, làm tổn thương người khác thì đương nhiên sẽ mất đi phúc báo. Cuộc sống của những người hay dùng những lời lẽ sắc nhọn làm tổn thương người khác thường là những người cô đơn, ít bạn bè.
Thực tế là không người chồng nào muốn về nhà nếu có một cô vợ thường xuyên chì chiết, trách móc; không có đứa con nào hạnh phúc nếu có cha mẹ không nói lời dịu dàng mà chỉ quát nạt, la mắng; không có người bạn nào hứng thú giao thiệp với người hay nói lời cay độc, bình phẩm ác ý…
Người có vận mệnh tốt là người ăn nói có chừng mực, mỗi lời nói đều thể hiện là người có đạo đức, họ không dùng ngôn từ mạnh để phê phán, chê bai người khác, không dài dòng nói từ chuyện nọ sang chuyện kia, không kể công của bản thân mình sau khi đã giúp ai đó. Lời nói của họ luôn chân thành, với tâm ý động viên, khích lệ người khác.
Biết rõ về một người, không cần nhất thiết phải tận nói, hãy lưu lại cho người ta ba phần khoảng trống, đây cũng là lưu lại chút “khẩu đức” cho mình. Trách một người không cần phải tận trách, hãy lưu lại cho người ba phần khoảng trống, đây cũng là lưu được chút độ lượng cho mình.
Có công không cần đòi hỏi tận cùng, hãy lưu lại cho người ba phần khoảng trống, đây cũng là lưu được chút khiêm nhượng cho mình. Đúng lý cũng không cần đoạt tận, hãy lưu lại cho người ba phần khoảng trống, đây cũng là lưu được chút khoan dung cho mình. Tài năng đừng quá ngạo mạn, hãy lưu lại cho người ba phần khoảng trống, đây cũng là lưu chút đức khiêm hư cho mình.
Cổ nhân nói: ‘Lời do tâm sinh‘, một người có tâm tính như thế nào thì sẽ nói ra những lời như thế. Người có lòng bao dung lời nói ra sẽ nhẹ nhàng hòa ái, người trong tâm đầy oán hận, lời nói ra sẽ hung hăng, cay nghiệt. Người khiêm nhường lời nói ra sẽ chừng mực nhã nhặn. Người tự cao lời nói thường khoa trương phách lối.

05/10/2021

Vũ Trụ có hai nguồn lực cơ bản , một chính , một phản tức dương lực và âm lực. Dương lực còn gọi là “ Phục Lực”, âm lực còn gọi là “ Bác Lực” hai nguồn lực này lần lượt thay nhau quy phạm quá trình sinh tồn và phát triển của vạn vật trong vũ trụ. Phục lực khiến vật chất từ nhỏ sinh trưởng thành lớn , bác lực khiến vật chất từ lớn phân hóa thành nhỏ. Người xưa gọi hai loại lực này là “ âm dương” . Không có âm lực Vạn vật đều chịu tác động của dương lực, liên tục sinh trưởng từ nhỏ đến lớn , liên tục sinh sôi. Nếu con người chỉ sinh sôi mà không chết đi khiến không gian bị thu hẹp lúc đó Nhân loại sẽ bị hủy diệt . Ngược lại nếu chỉ có âm lực mà không có dương lực , cũng sẽ đẩy nhanh tốc độ hủy diệt của vũ trụ. Thọ mệnh dài ngắn, cát hung họa phúc của cả đời người đó là do tình trạng Vương suy của hai khí âm dương sinh ra quyết định.
Nguyên lý học thuyết âm dương được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội , chỉ có điều ta không tự biết mà thôi. Ví như trời - đất , trời ở trên là dương, đất ở dưới là âm , nếu không có trời thì cũng không có đất , Ngày và Đêm, sướng khổ, buồn vui. Nếu không có ngày thì biết sao là đêm, không có khổ thì biết sao là sướng, không có buồn thì biết sao là vui.
Dương có đặc tính : Trên, ngoài , sáng, mùa xuân hạ, ôn nhiệt, can táo, nhẹ , thượng thăng, động, hưng phấn, cứng rắn, đi lên, sinh sôi, phát triển, hiển thị, hướng ngoại vươn dài, rõ ràng , tích cực, hiếu động.
m có đặc tính: dưới, trong , tối, mùa thu đông, hàn lương, thấp nhuận, nặng, hạ giáng, tĩnh, ức chế, yếu đuối, đi xuống, co rút, ẩn giấu, hướng nội, thu vào, tích trữ, tiêu cực,

Mọi sự vật cụ thể đều đồng thời có hai mặt âm dương, trong dương có âm , trong âm có dương. Bất kể sự vật nào cũng không thoát khỏi phạm trù âm dương. Trong điều kiện nhất định, âm dương có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sự vật phát triển đến cực điểm sẽ chuyển hóa theo chiều ngược lại chính là một hình thức biểu hiện của chuyển hóa âm dương.

Con người là bậc chí linh cũng không thoát khỏi sự chi phối của m Dương Ngũ Hành, khi sinh ra, con người thụ hưởng khí âm dương, ngũ hành của trời đất ở thời điểm đó, người ta gọi là MỆNH, trong quá trình từ khi sinh ra tới khôn lớn, trưởng thành rồi chết đi người ta gọi là VẬN nên mới có câu là VẬN – MỆNH, MỆNH thì cố định, VẬN thì thay đổi. Một người nếu có âm dương hài hòa, ngũ hành cân bằng luân chuyển có tình thì đó là lý tưởng, cuộc đời sẽ tốt đẹp, thuận lợi. Nhưng để có một mệnh như vậy thì vô cùng hiếm thấy. Vậy muốn để cho vận mệnh của một đương số cụ thể người ta tìm ra một hành nào đó trong ngũ hành có tác dụng tương tác tốt nhất với các hành còn lại để đạt được mục đích đó. Hành đóng vai trò như vậy người ta gọi là DỤNG THẦN. Hành cũng có vai trò như vậy nhưng có tác dụng không lớn bằng DỤNG THẦN người ta gọi là HỶ THẦN.

Khi biết Dụng thần (Hoặc Hỷ Thần) của Mệnh thì trong cuộc sống cần triệt để ứng dụng nó, như vậy chí ít cũng sẽ được sức khỏe, an lành, nhiều thì gặp được quý nhân giúp đỡ, kinh doanh phát đạt, được phú, được quý, giữ được tiền tài, thăng quan tiến chức và hạn chế rủi ro hoạn nạn…
Ứng dụng dụng thần vào các việc như:
1- Đặt tên cho bé mới sinh
2- Đặt tên, tạo Logo cửa hàng, công ty
3- Định hướng nghề nghiệp, chọn đối tác, cộng tác, dựng vở gả chồng
4- Lựa chọn phương hướng: mở công ty, đặt phòng làm việc, phòng ngủ, trang trí đồ vật, màu sắc…
5- Tận dụng thời cơ phát triển tốt nhất, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất
- Nếu làm trái Dụng thần thì sẽ ra sao ?
Như trong kinh doanh nhẹ thì làm ăn khó khăn, gặp tiểu nhân cản trở, tai nạn mất mát ngoài ý muốn, nặng thì phá sản. Hay về quan trường thì cản trở thăng tiến, hay gặp thị phi…
Tóm lại, nếu có cơ hội, hãy xem Dụng thần (Hỷ thần) của mình để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, nó luôn luôn hữu ích.

27/05/2021

YÊU NHAU LÀ TU TẬP

“Thường, chúng ta phải lòng những người khác không phải bởi vì chúng ta thực sự yêu và hiểu họ, mà là họ khiến chúng ta bị sao nhãng khỏi những đau khổ của mình. Khi chúng ta học cách yêu và hiểu bản thân mình và có lòng trắc ẩn thực sự đối với chính chúng ta thì khi đó, chúng ta có thể thực sự yêu và hiểu người khác.”
Khi những rung động mới mẻ và vui tươi của phút ban đầu đã lắng xuống, người ta lại quay về với thực tại và những nỗi buồn của mình. Người ta nhận ra chúng không đi đâu cả, chỉ là chút thay đổi đã làm người ta xao lãng khỏi chúng mà thôi. Người ta bắt đầu vỡ vạc ra những mâu thuẫn, khác biệt. Và người ta cãi vã, không chấp nhận nổi nhau, bắt nhau thay đổi, và khi ko thay đổi thì đòi chia tay.
Một cặp đôi có thể vượt qua giai đoạn này nếu sớm nhận ra vấn đề: chẳng ai có thể làm mình hạnh phúc nếu chính mình không xử lý được những đau khổ của mình. Nếu bạn nghĩ rằng bạn chỉ hạnh phúc khi người yêu thay đổi, thì bạn mãi chìm trong đau khổ mà thôi.
Chấp nhận chính là chìa khoá giải thoát. Và bạn hỏi làm sao để chấp nhận? Hãy bắt đầu từ yêu thương đúng nghĩa. Yêu người đó như yêu chính mình, nâng đỡ người đó như nâng niu một đứa trẻ mong manh. Thương cảm với những nỗi đau sâu kín nhất của họ. Lắng nghe, không phải bằng lời, mà bằng trái tim về những nỗi lòng của họ.
Còn nếu cứ mãi bám chấp thì sao? Có lẽ đó chính là những cuộc tình nhiều năm mà người ngoài cuộc tưởng bền bỗng kết thúc đột ngột và dứt khoát. Hoặc là, bao năm bên nhau vẫn vậy, vẫn chia tay rồi lại làm hoà (vì thói quen, vì ngại yêu từ đầu) rồi lại chia tay (vì mãi vẫn ko chấp nhận nổi nhau).
Yêu 1 người cũng là cả một quá trình tu tập.

Nguồn: Sư Ông Làng Mai.

06/04/2021

BÀN VỀ CHỌN NGÀY TỐT
Từ xưa, mỗi khi dự định làm một việc gì đó có tính chất quan trọng, người ta thường chọn lấy những ngày tốt, tránh những ngày xấu. Cái này đã thành tập tục ăn sâu vào đời sống nhân dân ta.
1- Vậy có ngày tốt, ngày xấu hay không?
Thực tế trong cùng một ngày: Trong một phiên tòa bên A thắng kiện, bên B thua kiện. Bên A nhận được bồi thường, bên B phải bồi thường. Người thì mất của, người khác nhặt được của. Cưới cùng ngày, cùng tháng, cùng năm mà có cặp thì sống chan hòa hạnh phúc, có cặp thì gặp muôn vàn trái ngang. Thế thì ngày đó là tốt hay xấu?
60 ngày (Vòng lục thập hoa giáp: từ ngày Giáp Tý, Ất Sửu… Quý Hợi) thực chất ban đầu không có cát hung. Chỉ do NĂM, THÁNG( Sự tương tác giữa mặt trăng, mặt trời và trái đất) đem lại cát hung cho ngày mà thôi. Tác dụng tốt hay xấu của ngày đó lại còn cho phương nào; Việc gì; Cá nhân người nào.
2- Việc xem ngày(Trạch cát) là khoa học hay mê tín?
Phương pháp xem ngày xuất phát từ văn hóa phương đông. Các nhà chiêm tinh học cổ đại phát hiện sự di chuyển của các tinh tú hệ mặt trăng, mặt trời tác động xuống trái đất sau đó nhận xét tính chất tốt xấu rồi đặt cho một cái tên gọi là THẦN SÁT. Thiên văn học phương tây sau này nghiên cứu, dùng khoa học hiện đại đối chiếu thì nhận được các kết quả tương đồng, tuy tên các THẦN SÁT không giống nhau.
Người áp dụng theo thuật chọn ngày tiêu biểu nhất của phương tây lại là tổng thống Mỹ Rigân. Lịch công tác cả năm của ông đều dựa vào ngày mà một nữ chiêm tinh vạch sẵn. Ngày tốt: màu lục; ngày trung bình: màu vàng; ngày xấu: màu đỏ. Căn cứ vào đó chánh văn phòng tổng thống đặt lịch công tác.
3- Căn cứ vào đâu để chọn ngày tốt?
- Trước đời nhà Thanh tài liệu tuyển trạch(Chọn ngày tốt) thì có thiên kinh vạn quyển. Thầy bà thì thật giả lẫn lộn.
- Vua Khang Hy nhà thanh (1662 – 1722) xét thấy tình trạng chọn ngày hỗn loạn đó bèn triệu tập các học sỹ có tiếng trong nước thời bấy giờ đứng đầu là Lý Quang Địa, thống nhất biện luận về các loại thần sát tạo thành lịch, rồi giao cho một số học giả dùng làm các căn cứ soạn lịch hàng năm. Còn các loại thuật nhảm nhí bị bãi bỏ. Cuốn sách quý giá đó gọi là: “Tinh Lịch Khảo Nguyên”.
- Tiếp đến vua Càn Long nhà thanh (1736 – 1795) lệnh cho nhóm học sĩ Doãn Lộc; Mai Cốc Thành; Hà Quốc Tông biên soạn một bộ sách về phương pháp tuyển trạch(Gồm 36 quyển) nhằm bổ sung cho “Tinh Lịch Khảo Nguyên” được hoàn hảo hơn. Phê phán những tà thuyết lưu truyền trong xã hội đương thời, đồng thời đính chính lại những sai sót trong lịch thư của Toà Khâm Thiên Giám(Tài liệu này nằm trong “Tứ khố toàn thư” của Trung Quốc).
Trong đó quyển số 36 gọi là “Biện Ngụy” tác giả phê phán bác bỏ những điều không có căn cứ, không phù hợp. Ví dụ: Tháng đại lợi cho nam nữ hợp hôn; 24 thần sát tuần hành trên núi; Dịch mã lâm quan, hỏa huyết đao chiêm, phuch đoạn, băng tiêu …
Cuốn: “ Ngọc hạp thông thư” của nước ta bắt nguồn từ triều Nguyễn và một số sách khác. Trong đó vẫn còn lưu lại nhiều điều mà sách của Trung Quốc đã phân biện và bãi bỏ từ triều nhà Thanh.
Các cụ ngày xưa, theo thầy học thuật quả thật rất khó khăn, vất vả. Thầy có sách gì, có kiến thức tới đâu thì giảng cho trò tới đó, theo thầy khác thì sợ mang tiếng “Khi sư diệt tổ”. Ngày nay nếu theo học thì kiến thức được rộng mở hơn, nhiều nguồn tài liệu để so sánh hơn, nhiều thầy để hỏi hơn. Thầy cũng “Dân chủ” hơn, trò cũng được sáng suốt lựa chọn hơn. Nhưng ngược lại ngày nay không ít người chạy theo đồng tiền thầy “Rởm”, sách “rởm” ra nhiều, bên ngoài thì màu mè bắt mắt, bên trong thì sao y nguyên của những năm trước. Quyển này kết quả trái ngược với quyển kia(Đã kiểm chứng). Thầy ngồi phán thì như thật, nhưng khi tìm hiểu ra thì kiến thức về “Âm Dương”, “Ngũ Hành” của thầy quên chưa nghiên cứu. Thậm trí còn chẳng phân biệt mỗi chi đều có 6 ngày ví dụ: Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần đánh đồng vào một chữ “Dần” để phán tốt(Xấu). Thấy chủ sự tuổi có chữ số hàng đơn vị là 1,3,6,8 lập tức phán kim lâu mà không hiểu con số 1,3,6,8 đó phải căn cứ vào địa bàn(Cửu cung) mới tính được ra chứ đâu phải dựa vào hàng đơn vị số tuổi. Người đi xem thì rối bòng b**g không biết tin ai.
4- Vài lời mạn phép chia xẻ
Xem ngày có lợi hay có hại? Xin thưa nó hoàn toàn có lợi.
- Thứ nhất đó là tâm lý ta thoải mái khi tiến hành công việc quan trọng(Có thờ có thiêng, có kiêng có lành).
- Thứ 2 tác động giữa mặt trời, mặt trăng tới trái đất, tới con người đã được khoa học chứng minh, nếu lựa chọn đúng sẽ mang đến những thuận lợi.
Làm thế nào để xem đúng: Xem ngày là một môn khó, phải hiểu và phải căn cứ vào ÂM DƯƠNG; NGŨ HÀNH để tìm ra các thần sát tốt(Hành tinh, tiểu hành tinh mà ta thường gọi là “Sao”. Có các loại thần sát do năm, do mùa, do tháng, do ngày), tác động tới hướng(như việc làm nhà, làm mộ), tới công việc cụ thể ta chuẩn bị tiến hành. Khi tìm được ngày đó rồi, nhưng đòi hỏi bắt buộc ngày, giờ đó phải không được xung, khắc, hình, hại tuổi của người chủ sự( Đây chính là lý lẽ: tốt với người này nhưng xấu với người khác).
Những kiêng kỵ truyền miệng không có căn cứ thì nên bỏ qua, đừng quá câu nệ ví dụ: các nước phương tây thì sợ con số 13, các nước như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc thì lại không sợ con số 13 mà lại rất kiêng kỵ con số 4.
Ngày 5, 14, 23(Ngày nguyệt kỵ) là ba ngày mà xưa vua chúa hoàng tộc đi du ngoạn, vua chúa đi đâu cũng phải có lính đẹp đường. Tiền Hô hậu ủng dân chúng không được nhìn mặt, phải cúi dạp hai bên vệ đường chờ cho xa giá đi qua mới được đứng dậy(Hỏi vì sao không lỡ việc). Dần dần mùng 5, 14, 23 cũng lại trở thành ngày kiêng kỵ (Đi chơi còn lỗ, nỡ là đi buôn)
Ngày tam nương gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch là những ngày chết và ngày nhập cung của “ba người đàn bà”là Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Người ta cho rằng ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại: Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên
( Điều này thật là vô lý bởi chẳng có căn cứ phải kiêng vào năm nào, tháng nào mà lại tháng nào cũng vậy, năm nào cũng thế. Không có căn cứ tác động xấu thế nào đối với con người và trái đất(Ngoài câu các cụ bảo thế). Mà biết đâu các vị đó mà so với các hoa hậu bây giờ khéo còn thua xa.
- Vậy tại sao vẫn có những người “ Vô sư vô sách” không kén chọn, kiêng kỵ mà vẫn chẳng sao?. Đó là vì ở những thời điểm đó thời vận của người ta đang tốt, nên người ta có thể làm thỏa mái, không kén chọn mà lại gặp ngày không phải kiêng kỵ, không phải ngày xấu.(Nhưng gặp người cẩn thận thì ai dám mạo hiểm thử đây?).
5- Phép quyền biến
“ Chấp kinh phải biết tòng quyền” đừng bao giờ cứng nhắc mà hỏng việc.
Chấp Kinh nghĩa là cứ theo kinh điển mà làm, nhưng trong quá trình thực hiện phải biết linh động vận dụng kết hợp hoàn cảnh cụ thể, đó là phép quyền biến đó cũng là phương châm của “Kinh dịch” đã tồn tại từ cổ xưa.
Ví dụ có việc quan trọng phải đi không thể chọn được ngày giờ(Chọn thì lỡ việc) lúc này đành phải chọn hướng tốt mà đi. Trong xây dựng nhà cửa nguyên vật liệu nhân công thời gian kế hoạch bố trí xong xuôi nhưng vì chủ nhà không được tuổi thì nhờ tuổi của Bố, của anh em. Trong giá thú đón dâu về không đúng giờ đã chọn thì cha mẹ chồng tạm lánh đi ít phút sang hàng xóm đợi khi cô dâu và họ nhà gái đã vào nhà và yên vị bố mẹ chồng mới trở về.
Trên đây là những chia xẻ của cá nhân tôi, dựa vào những tài liệu mà bản thân đã được tiếp thu. Trong bài viết không tránh khỏi những khiếm khuyết mong mọi người đóng góp. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

01/04/2021

DỤNG THẦN LÀ GÌ?
Trước khi tìm hiểu về cách cách cải vận, thì chúng ta cần phải hiểu một số khái niệm trong mệnh lý học.
1. Nhật chủ, nhật nguyên, Thân: chỉ can ngày
2. Mệnh cục ban đầu: chỉ tứ trụ, gọi tắt là nguyên cục ( đôi khi bao gồm cung mệnh, thai nguyên).
3, Tuế Vận: Tuế là lưu niên, vận bao gồm đại vận và tiểu vận
4. Toàn cục: Toàn cục vận mệnh do mệnh cục ban đầu và tuế vận tạo thành
5. Mệnh cục: Tên gọi chung đối với mệnh cục ban đầu và toàn cục. có khi chỉ mệnh cục ban đầu, có khi chỉ toàn cục.
6. Mệnh chủ: Chủ nhân của mệnh cục.
Con người sinh ra nhờ khí của thiên địa ngũ hành, quý ở sự ngũ hành lưu thông và cân bằng động.
Một hành trong ngũ hành quá mạnh (thái quá) thì sẽ khiến một hành nào đó bị khắc, tiết, hao nghiêm trọng, dẫn đến bản thân cang vượng, quá yếu (không đủ) thì đặc tính bản thân bị áp chế không được tự do thể hiện, tác dụng không được phát huy bình thường. Bởi vậy thái quá và không đủ đều phá hủy sự cân bằng của mệnh cục, dẫn đến tai họa cho mệnh chủ. Thông thường nhân tố có hại dẫn đến tai họa này được gọi là "bệnh" của mệnh cục.
Mệnh cục được chia thành mệnh cục ban đầu và toàn cục do mệnh cục ban đầu và tuế vận tạo thành.
Cát hung của mệnh cục được thể hiện trong toàn cục, nhưng toàn cục lại phải lấy nguyên cục làm cơ sở, lấy mệnh chủ làm hạt nhân, bởi vậy chúng ta cần phải tìm ra "bệnh" từ trong nguyên cục. Tìm ra bệnh chúng ta sẽ dùng một thứ "thuốc" phù hợp để chữa trị, loại "thuốc" này chính là dụng thần của mệnh cục (ở đây chỉ dành riêng cho mệnh cục ban đầu lấy, khi tổ hợp toàn cục biến đổi khiến cho sự cường nhược của nhật chủ biến đổi lớn thì phải lấy dụng thần mới).

Trích: Huyền cơ tứ trụ - Lý Thuận Tường

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Ngõ 95 Chùa Bộc
Hanoi
100000

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 12:00